1. Tên dự án dạy học:
Tiết 24 - Bài 21: ĐỘT BIẾN GEN
MÔN SINH HỌC 9
2. Mục tiêu dạy học:
2.1
Về kiến thức:
- Nêu được khái
niệm biến bị.
- Phát biểu được
khái niệm đột biến gen và kể được các dạng đột biến gen.
+ Nêu được
nguyên nhân phát sinh và một số biểu hiện của đột biến gen.
+ Nêu được tính chất biểu hiện và vai trò của đột biến gen đối với sinh
vật và
con người.
2.2
Về kỹ năng:
- Rèn kĩ năng
thu thập và xử lí thông tin khi đọc SGK,
quan sát hình ảnh … để
tìm hiểu kiến thức về đột biến gen.
- Rèn kĩ năng
quan sát, phân tích, tổng hợp, lí luận và liên hệ thực tế.
- Rèn kĩ năng
hợp tác, ứng xử trong nhóm, tự tin bày tỏ ý kiến cá nhân.
- Rèn kĩ năng
liên kết kiến thức giữa các môn học để giải quyết vấn đề đặt ra.
2.3 Về thái độ:
- Rèn ý thức, tinh thần tham gia môn học.
- Yêu thích môn sinh học cũng như các môn khoa học
khác như Vật lí, Hóa học, Công nghệ…
- Giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường cụ
thể là bảo vệ chính môi trường ở địa phương nơi các em đang sinh sống. Cần đấu
tranh chống sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, cẩn thận khi xử dụng hóa
chất, thuốc trừ sâu để bảo vệ sức khỏe con người…
* Đồng thời trong chủ điểm dạy học này học sinh cần
có năng lực kết hợp vận dụng kiến thức liên môn của các môn học như: Sinh học
với vật lí, Hóa học, Công nghệ, lịch sử,… để giải quyết vấn đề về nguyên nhân
phát sinh đột biến gen và đề ra các biện pháp phòng chánh.
- Môn vật lí và hóa học :
+ Các chất phóng xạ, tia phóng
xạ, tia X… có thể được tạo ra từ các vụ nổ trong vũ trụ hay do thử vũ khí hạt
nhân được tích lũy trong khí quyển rồi rơi xuống đất xâm nhập vào cơ thể thực
vật, động vật rồi qua rau, củ, quả, sữa, thịt vào cơ thể con người. Các chất
phóng xạ được tích lũy trong cơ thể và tăng dần theo thời gian và rồi gây ra
các đột biến.
+ Các hóa chất độc hại như điôxin, DDT…, các
khí thải có hại như C0, S02, N02…Cùng
với sự phát triển của xã hội, Sự phát triển nhanh của một số ngành công nghiệp
đặc biệt là công nghiệp hóa học đã tạo ra nhiều hóa chất mới có hoạt tính gây
đột biến cao. Các hóa chất này cũng đi vào cơ thể bằng nhiều con đường ăn,
uống, hô hấp…
- Môn công nghệ 7 :
Học sinh hiểu được rằng cần
hạn chế sử dụng biện pháp hóa học để phòng trừ sâu, bệnh. Khi sử dụng biện pháp
hóa học để phòng trừ sâu, bệnh hại, việc sử dụng thuốc trừ sâu không đúng cách
và các loại thuốc đã cấm sử dụng gây hậu quả xấu, các thuốc diệt cỏ, thuốc trừ
sâu có thể làm gây ô nhiễm môi trường, gây độc cho cây trồng, vật nuôi và con
người, tăng khẳ năng gây đột biến.( Kiến thức bài 13 Phòng, trừ sâu bệnh hại).
- Môn Lịch sử :
Trong lịch sử chiến tranh Việt
Nam (Chương trình lịch sử 9) các chất hóa học mà Mĩ đã rải xuống miền Nam gây
hậu quả di truyền lâu dài. Mĩ đã rải chất diệt cỏ, rụng lá ( Điôxin) gây ra
những bệnh, tật di truyền như khoèo chân, thừa ngón chân, thừa ngón tay, lồi
mắt…( Hs có thể liên hệ đến những nạn nhân nhiễm chất độc da cam).
- Môn
sinh học bài 54 Ô nhiễm môi trường : Ô nhiễm môi trường là gì ? Những hành động của con người làm ô
nhiễm môi trường sẽ gây hậu quả nghiêm trọng gây lên hiện tượng biến bị và cũng
là một trong những nguyên nhân gây đột biến. Từ đó giáo viên giúp học sinh hiểu
được tại sao chúng ta cần phải bảo vệ môi trường.
3. Đối tượng dạy học của dự án:
* Đối tượng dạy học của dự án
là học sinh
- Số lượng học
sinh: 34 em
- Số lớp thực hiện: 1 lớp ( 9a1 )
- Khối lớp: 9
- Một số đặc điểm cần thiết khác của học sinh đã học theo dự án:
+ Dự án mà tôi thực hiện là một chủ điểm, một tiết học, một bài trong
chương IV BIẾN DỊ của chương trình Sinh
Học lớp 9. Bài học có liên quan tới nhiều môn học mà những nội dung kiến thức
đó các em đã học rồi.
+ Các em là học sinh lớp 9 lứa tuổi ham học hỏi, tiếp cận với kiến thức
rất nhanh. Không còn bỡ ngỡ, lạ lẫm trước những đổi mới về phương pháp, đổi mới
với những hình thức kiểm tra, đánh giá mà giáo viên áp dụng khi giảng dạy.
Việc vận dụng kiến thức liên môn đối với các em học sinh lớp 9 rất thuận
lợi. Các bài học cần vận dụng các em đã được tìm hiểu kiến thức rồi. Vì vậy nên
khi cần thiết kết hợp kiến thức của một môn học nào đó vào bộ môn Sinh học để
giải quyết một vấn đề trong bài học, các em sẽ không cảm thấy bỡ ngỡ hay lúng
túng.
Ví dụ: Nếu như
học sinh lớp 6, lớp 7 mà kết hợp với kiến thức môn Hóa học vào môn Sinh học là
không thể được. Ngay cả đối với học sinh lớp 8 việc thực hiện này cũng rất khó
khăn. Như vậy chỉ có học sinh lớp 9 mới có thể kết hợp được kiến thức của các
môn học để giải quyết một vấn đề nào đó trong môn học một cách thuận lợi nhất.
4. Ý nghĩa của dự án
Qua thực tế dạy học theo chủ đề, chủ điểm tôi nhận thấy rằng việc kết hợp
kiến thức giữa các môn học “tích hợp” vào để giải quyết một vấn đề nào đó trong
một môn học là việc làm hết sức cần thiết Vì:
* Đối với học sinh:
- Giúp học sinh tiết kiệm được thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu quả
nhận thức cao.
- Học sinh được rèn luện thói quen tư duy nhận thức một vấn đề một cách
hệ thống và logic.
- Học sinh có hứng thú học bài, được tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và
được suy nghĩ sáng tạo nhiều hơn. Từ đó vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn.
- Học sinh gắn kết được các kiến thức của các môn khoa học khác nhau.
- Giúp học sinh hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đột biến gen trong môn
học .
* Đối với giáo viên:
- Đòi hỏi người giáo viên giảng
dạy bộ môn phải có kiến thức sâu và rộng, không chỉ nắm bắt nhuần nhuyễn kiến
thức bộ môn mình giảng dạy mà còn cần phải không ngừng trau rồi kiến thức của
những môn học khác để giúp các em gải quyết các tình huống, các vấn đề đặt ra
trong môn học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. bản thân tôi đã trình bày và
thực hiện thử nghiệm một dự án nhỏ đối với môn Sinh học lớp 9 năm học 2014 -
2015 này. Và sẽ thực hiện tiếp trong năm học tới.
- Trong thực tế tôi thấy khi soạn bài có kết hợp với kiến thức của các môn
học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những vấn đề
đặt ra trong sách giáo khoa. Từ đó bài dạy sẽ trở nên linh hoạt, sinh
động hơn.
5. Thiết bị dạy học, học liệu:
a. Đối với: Tiết
24 Chương IV: BIẾN DỊ - Bài 21: ĐỘT BIẾN GEN
- Giáo viên:
+ Giáo án. Bảng phụ.
+ Giáo án trình chiếu trên powerpoint với các
hình ảnh minh họa.
+ Kiến thức lịch sử về chiến tranh Việt Nam.
Kiến thức Vật lí, Hóa học, Công
nghệ,… để giải quyết vấn đề về nguyên nhân phát sinh đột biến gen và đề ra các
biện pháp phòng chánh.
- Học sinh :
Học bài cũ, tìm hiểu trước nội dung bài học.
6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học:
* Giáo viên ổn định tổ chức :
a. Khám phá :
- Gv cho Hs quan sát hình ảnh - > yêu cầu hs
nhận xét xem chúng có gì bất thường ?
- Hs trả lời - > Gv nhận xét và giới thiệu nội
dung chương và bài.
Biến dị là hiện tượng con sinh ra khác với bố mẹ
và khác nhau về nhiều chi tiết, biến dị có thể di truyền hoặc không di truyền…

BIẾN DỊ
Biến dị di truyền Biến
dị không di truyền

( Thường biến )
Biến dị tổ hợp Biến dị
đột biến
Đột biến gen Đột biến nhiễm sắc thể
b. Kết nối :
HOẠT ĐỘNG I : Tìm hiểu đột biến gen
là gì ?
- GV :
Giáo viên cho hs quan sát H 21.1thảo luận hoàn thành bảng.
|
Đoạn
ADN
|
a
|
b
|
c
|
d
|
|
Số
cặp Nu
|
|
|
|
|
|
Điểm
khác so
với
đoạn a
|
|
|
|
|
|
Đặt
tên dạng biến đổi
|
|
|
|
|
- HS: Đọc q quan sát H 21.1 chú ý trình tự và số cặp Nu.
Thảo luận hoàn thành bảng. Đại diện nhóm trình bày, nhóm khác nhận xét.
- GV:
Gv nhận xét, hỏi hs:
? Cấu trúc của đoạn gen bị biến
đổi khác với đoạn ban đầu như thế nào ?
? Đột biến gen là gì ?
? Gồm
những dạng nào ?
- HS: Hs trả lời và rút ra kết luận.
- GV: hoàn thiện kiến thức. Kết luận và
ghi bảng.
* Tiểu
kết 1:
|
- Đột
biến gen là những biến đổi trong cấu trúc của gen liên quan tới một hoặc một
số cặp nuclêôtit.
- Có 3 dạng đột biến gen thường gặp:
+ Mất
1 cặp nuclêôtit.
+
Thêm 1 cặp nuclêôtit.
+
Thay thế 1 cặp nuclêôtit.
|
- GV:
Gv cho hs quan sát 1 số hình ảnh minh họa đột biến gen và giới thiệu
hoạt động 2
- HS: Hs quan sát, lắng nghe.
HOẠT ĐỘNG II : Tìm hiểu nguyên nhân phát sinh đột biến gen.
- GV: Gv cho hs đọc q sgk.
? Có những nguyên nhân nào gây nên đột biến gen
?
- HS:
Hs đọc q sgk, trả lời. Hs tự nhận xét, bổ sung cho đầy đủ đáp án.
- GV: Gv nhận xét.
* GV TÍCH HỢP KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀ HÓA HỌC:
- GV: ? Em hãy kể tên những tác nhân vật lí gây đột biến gen?
- HS:
Trả lời. ( Tia phóng xạ, tia X...)
- GV: Những tác
nhân vật lí này có thể có nguồn gốc từ đâu?
- HS: Trả lời. (Các
chất phóng xạ, tia phóng xạ, tia X… có thể được tạo ra từ các vụ nổ trong vũ
trụ hay do thử vũ khí hạt nhân được tích lũy trong khí quyển rồi rơi xuống đất
xâm nhập vào cơ thể thực vật, động vật rồi qua rau, củ, quả, sữa, thịt vào cơ
thể con người. Các chất phóng xạ được tích lũy trong cơ thể và tăng dần theo
thời gian và rồi gây ra các đột biến).
- GV: Gv nhận xét câu trả lời của hs và giúp hs hiểu được chất phóng xạ là gì và thấy rõ hậu quả của việc rò rỉ chất phóng xạ ở các
nhà máy điện nguyên tử và qua những vụ thử vũ khí hạt nhân.
- HS : Hs lắng
nghe, ghi nhớ kiến thức.
- GV: ? Em hãy kể tên những
tác nhân hóa học gây đột biến gen? Nguồn gốc của các tác nhân này có từ đâu?
- HS: Trả lời. ( Hs vận dụng kiến thức môn hóa học để nắm bắt được
các loại hóa chất độc hại như Điôxin, DDT... Những khí độc C0; S03; N02 ...Nguồn gốc là do hoạt động công
nghiệp, sinh hoạt của con người và cả do con chế tạo ra...)
- GV: Gv nhận xét câu trả lời của hs và giúp hs hiểu được cùng với sự phát triển của xã hội, Sự phát triển nhanh của một số ngành
công nghiệp đặc biệt là công nghiệp hóa học đã tạo ra nhiều hóa chất mới có
hoạt tính gây đột biến cao. Các hóa chất này cũng đi vào cơ thể bằng nhiều con
đường ăn, uống, thở … )
- HS : Hs lắng
nghe, ghi nhớ kiến thức.
* GV TÍCH HỢP KIẾN THỨC CÔNG NGHỆ 7: bài 13 Phòng, trừ sâu bệnh hại.
- GV: ? Nêu hậu quả của việc lạm dụng, sử dụng không đúng cách thuốc
bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu, bệnh ? Liên hệ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở địa phương em ?
- HS: Trả lời và liên hệ. ( Hậu quả gây ô nhiễm môi trường; gây độc
cho cây trồng, vật nuôi và con người; giết chết các sinh vật khác ở đồng ruộng
- > ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của con người, tăng khẳ năng gây đột biến).
* GV TÍCH HỢP KIẾN THỨC MÔN LỊCH SỬ 9:
- GV: Gv cho hs quan sát hình
ảnh Mĩ rải chất độc màu da cam ( Điôxin)
Xuống cách rừng Việt Nam.
- HS: Qua quan sát hình ảnh hs thấy được rằng: Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam các chất hóa
học mà Mĩ đã rải xuống miền Nam gây hậu quả di truyền lâu dài. Mĩ đã rải chất
diệt cỏ, rụng lá gây ra những bệnh, tật di truyền như khoèo chân, thừa ngón chân,
thừa ngón tay, lồi mắt… và hs liên hệ tới những nạn nhân bị nhiễm chất độc da
cam.
* GV TÍCH HỢP KIẾN THỨC SINH HỌC 9: Kiến thức bài 54: Ô nhiễm môi trường.
- GV : Gv chiếu một câu truyện ngắn :“ LỜI KHẨN CẦU CỦA DÒNG
SÔNG” lên màn hình và gọi 1
em đọc to rõ ràng cho cả lớp cùng nghe.
- HS: 1 bạn hs đứng lên đọc, các bạn hs còn lại chú ý lắng nghe để
hiểu được thông đệp về môi trường mà câu truyện mang tới.
Chuyện kể rằng: Vào một ngày đẹp trời, trời nắng nóng. Có một tốp học sinh
rủ nhau ra sông tắm, lũ trẻ rất hí hửng và háo hức. Khi ra tới nơi, mấy bạn nam
cởi bỏ quần áo chạy ngay xống sông tắm trước còn các bạn nữ vì đi chậm hơn nên
xuống sau. Nhưng chỉ được một chút các bạn nữ ở trên bờ nghe có tiếng la lên. “
Trời ơi! Kiếp quá, kinh khủng quá !”
Các bạn nữ hốt hoảng chạy xuống hỏi:
- Chuyện
gì thế ?
-
Nước gì mà kinh
khủng quá! Nước gì đâu mà đen, mùi thì hôi thối, rác rưởi, thì đầy. Thế này làm
sao mà tắm được?
-
Đúng vậy nước bẩn
quá! Thôi đi về thôi!
Sông
ở đó lặng yên, muốn nói mà không nói được. Mọi người nhìn sông, rồi nhìn nhau,
mà trong lòng cảm thấy hụt hẫng.
- GV : Gv cho hs quan sát hình ảnh Công ty bột ngọt
Vedan dẫn nước thải ra sông làm cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng.
- HS: Hs quan sát hình
ảnh.
- GV : ? Em
hãy cho biết tình hình môi trường
hiện nay thông qua câu truyện và hình ảnh?
- HS: Hs trả lời. ( Môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, nguyên nhân là
do con người gây ra).
- GV : Đưa ra
một số hình ảnh về ô nhiễm môi trường và yêu cầu hs quan sát.
- HS: Từ hình ảnh
các em sẽ thấy được
không chỉ có môi trường nước bị ô nhiễm mà các loại môi trường đều bị ô nhiễm.
Từ đó các em hình thành khái niệm ô nhiễm môi trường là gì ?
- GV: Gv nhận xét câu trả lời của hs và kết luận “ Ô
nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị nhiễm bẩn, đồng thời các
tính chất lí học, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi”. Những hành
động của con người làm ô nhiễm môi trường sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, là một
trong những nguyên nhân gây đột biến.
- GV: Gv nhận xét, kết luận:
* Tiểu
kết 2:
|
Nguyên nhân gây đột biến gen là do:
+ Tự nhiên: Do rối loạn trong quá
trình tự sao của AND dưới ảnh hưởng của môi trường trong và ngoài cơ thể.
+ Nhân tạo: Con người dùng các tác
nhân vật lý, hóa học.
|
- GV GIÁO DỤC HỌC SINH:
Từ những nguyên nhân gây đột biến
trên, giáo viên giúp học sinh hiểu được tại sao chúng ta cần phải bảo vệ môi
trường, đặc biệt là môi trường sống ở địa phương. Nên án chiến tranh, đấu tranh chống sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, cẩn thận khi xử
dụng hóa chất, thuốc trừ sâu để bảo vệ sức khỏe con người…
- HS: Lắng
nghe và ghi nhớ kiến thức.
HOẠT ĐỘNG III : Tìm hiểu vai trò của đột biến gen.
- GV: Cho hs quan sát các hình ảnh về đột biến gen.
? Cho biết đột biến nào có lợi cho
bản thân sinh vật hoặc con người ?
? Phần lớn đột biến gen có lợi hay
có hại? Vì sao?
- HS: Quan
sát và trả lời.
- GV: Gv nhận xét hỏi tiếp ? Ngoài tác hại đột biến gen còn có vai
trò gì nữa ?
- HS: Trả
lời.
- GV: Gv nhận xét, kết luận và lấy thêm ví dụ minh họa. (Tại Nông trường Cờ Đỏ ở Cần Thơ nhân giống
lúa thơm. Giống này có ưu điểm: Là giống lúa cứng cây, chống đổ, kháng sâu bệnh
tốt và có năng suất cao, đạt khoảng 10 tấn/ha)
* Tiểu
kết 3:
|
- Đột
biến gen thường biểu hiện ra kiểu hình thường có hại cho bản thân sinh vật.
Vì chúng phá vỡ sự thống nhất hài hòa trong gen, gây ra rối loạn quá trình
tổng hợp protein.
- Đột
biến gen đôi khi có lợi cho bản thân sinh vật và con người, có ý nghĩa trong
trồng trọt và chăn nuôi, là nguồn nguyên liệu cho chọn giống và tiến hóa.
|
7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
- Sau khi học xong chủ điểm này, Giáo viên yêu
cầu các nhóm học sinh xây dựng lại kiến thức trọng tâm của chủ điểm vào tờ giấy A4 dưới dạng sơ đồ
tư duy.
-
Tiêu chí đánh giá kết quả học tập của các em là :
+ Các em phải thể hiện được cụm từ “ Đột biến gen ” là trung tâm của
bản đồ tư duy.
+
Từ trung tâm của bản đồ, các em vẽ các nhánh đi ra làm sao thể hiện được
nội dung kiến thức của bài học về khái niệm, nguyên nhân, các dạng đột biến,
vai trò và biện pháp hạn chế đột biến gen.
8. Các sản phẩm của học sinh:
Sau khi thu bài của học
sinh, bản thân tôi thấy rằng các em học sinh đã biết trình bày ý tưởng của mình
thể hiện nội dung kiến thức bài học một cách tương đối đầy đủ. Đặc biệt là các
em học sinh đã nêu được những biện pháp hạn chế gây đột biến gen vì đa số đột
biến gen là có hại cho sinh vật.
Từ kết quả học tập của
các em tôi nhận thấy việc kết hợp kiến thức liên môn vào một môn học nào đó là
một việc làm hết sức cần thiết, có hiệu quả rõ rệt đối với học sinh. Dự án mà
tôi thực hiện thử nghiệm đối với một bài trong bộ môn Sinh học lớp 9 đã đạt được kết quả rất khả quan. Bản thân tôi
sẽ thực hiện tiếp dự án này vào những bài học khác, tiếp tục nghiên cứu học hỏi
để có thể thực hiện đối với những chủ điểm, chủ đề có nội dung rộng và liên
quan tới nhiều môn học hơn. Giúp các em học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất.
Trên đây là dự án thử
nghiệm của bản thân tôi mong được sự ủng hộ, đóng góp ý kiến của các quý thầy,
cô để tôi hoàn thiện hơn dự án này.
Xin chân
thành cảm ơn!